25.12.2018
Đê bao ở ĐBSCL đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị SX nông nghiệp. Bên cạnh đó đê bao còn thích nghi và ứng phó với điều kiện biến đổi khí hậu khắc nghiệt.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Danh tham đê bao bảo vệ vườn cây ăn trái ở Hậu Giang

Mặc dù hàng năm lũ về ĐBSCL được xem là lợi thế cho SX nông nghiệp, nhưng việc hình thành đê bao tiếp tục phát triển ở nhiều nơi trong vùng ngập lũ, phục vụ SX lúa vụ 3 nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực và XK, phục vụ giao thông nông thôn.

An Giang là tỉnh đầu nguồn chịu tác động lũ rất lớn, làm ảnh hưởng đến đời sống và SX nông nghiệp. Chính vì vậy nhiều năm qua An Giang được Trung ương đầu tư hệ thống đê bao kết hợp tôn nền vượt lũ, xây dựng 247 cụm tuyến dân cư vùng ngập sâu (giai đoạn 1 là 203 cụm tuyến, giai đoạn 2 là 44 cụm tuyến).

Qua đó, đã bố trí cho 37.993 hộ dân sinh sống trong vùng lũ có chỗ ở ổn định và an toàn. Tính đến nay An Giang có 572 tiểu vùng, với chiều dài 4.620km đê bao kiểm soát lũ bảo vệ SX nông nghiệp của tỉnh hơn 242.000ha. Trong đó có 341 tiểu vùng bao với chiều dài 1.920km kiểm soát lũ cả năm cho hơn 156.800ha đất SX 3 vụ/năm.

ĐBSCL đang phát huy hiệu quả hệ thống đê bao phục vụ SX nông nghiệp

Ông Lương Huy Khanh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi An Giang cho biết: Lũ năm 2018 lên nhanh và sớm hơn trung bình nhiều năm từ 7-10 ngày. Do ảnh hưởng lũ thượng nguồn sông Mekong về, kết hợp với các đợt triều cường, mực nước cao ở mức trên BĐ III. Tuy nhiên tỉnh đã bảo vệ hơn 120.000ha lúa TĐ an toàn.

Mùa mưa, lũ vừa qua công tác gia cố đê bao, bờ bao ở An Giang khá thuận lợi vì đã chủ động trực ban và bố trí lực lượng tuần tra, kiểm tra đê bao 24/24 tại các khu vực xung yếu, bố trí vật tư, phương tiện, thiết bị theo phương châm “4 tại chỗ” kịp thời xử lý tình huống. Qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời trên 160 vị trí cống bọng, bờ bao bị thấm, rò rỉ nước.

Tại TP Cần Thơ, vùng SX nông nghiệp của TP đều nằm trong vùng ngập lũ của ĐBSCL, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều và mưa nội đồng.

Ở các khu vực này đã hình thành hệ thống bờ bao nội vùng chủ yếu là để ngăn lũ vào đồng trong thời kỳ đầu lũ để bảo vệ lúa TĐ và tạo thuận lợi cho việc bơm cấp cho đầu vụ ĐX.

Tính đến nay, TP Cần Thơ có khoảng 779km kênh trục và kênh cấp 1; 2.000km kênh cấp 2 và 1.000km kênh cấp 3. Phần lớn đê làm bằng đất có kết cấu mặt nhựa đường, tấm đan bê tông cốt thép, đá sỏi, hoặc đất tự nhiên.

Theo đó, quy hoạch thực hiện đê bao phục vụ SX nông nghiệp từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ở các khu vực SX nông nghiệp thuộc các quận, huyện Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt, Ô Môn, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền và Bình Thủy tổng diện tích là 92.682ha.

Về lâu dài, quy hoạch tạo ra hệ thống thủy lợi hợp lý, tiến tới hoàn chỉnh để có thể hạn chế thiệt hại do lũ gây ra, tận dụng được mặt lợi do lũ mang lại...

Ông Nguyễn Quí Ninh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi TP Cần Thơ cho biết: Nhằm phục vụ SX nông nghiệp hiệu quả và an toàn, TP đã xây dựng các đê bao khép kính nhằm mục đích đem lại hiệu quả trong SX nông nghiệp. Từ đầu năm đến nay đã nạo vét và gia cố các tuyến đê bao, tổng khối lượng công trình đất đào đắp 127.677m3, khép kín phục vụ diện tích gần 500ha đất SX. Công tác thủy lợi mùa khô ngành nông nghiệp thành phố đã thực hiện thi công nạo vét, nâng cấp mới 12 công trình đê bao khép kính với tổng chiều dài 31km. Sửa chữa, nâng cấp, nạo vét hệ thống thuỷ lợi Ô Môn - Xà No. Gia cố đê bao vùng SX cây ăn trái ở xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền...

08-03-56_nh_2_xy_dung_de_bo_con_chu_dong_thich_nghi_v_ung_pho_voi_dieu_kien_bien_doi_khi_hu_khc_nhiet_nhu_hien_ny
Xây dựng đê bao đã chủ động thích nghi và ứng phó với điều kiện biến đổi khí hậu

Ông Nguyễn Huỳnh Trung, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Thủy lợi Kiên Giang cho biết, tỉnh có diện tích đất nông nghiệp khá lớn, trên 450.000ha, trong đó, đất chuyên SX lúa là hơn 300.000ha, diện tích gieo cấy hàng năm đạt khoảng 725.000ha. Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Kiên Giang trải dài trên 3 vùng sinh thái khác nhau, là vùng U Minh Thượng, Tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên.

Trong đó, huyện U Minh Thượng là vùng ven biển mặn lợ, chủ yếu phát triển mô hình nuôi luân canh lúa - tôm (trồng lúa trong mùa mưa, nuôi tôm nước lợ trong mà nắng).

Tại Kiên Giang, đến nay tỉnh đã đầu tư hệ thống đê bao khép kín được trên 70% diện tích đất canh tác toàn tỉnh. Riêng diện tích 80.000ha làm lúa 3 vụ/năm có đê bao rất chắc chắn, an toàn ngay cả đối với những năm có lũ lớn.

Hiện hệ thống đê bao khu vực này đang được đầu tư hoàn chỉnh, gồm hệ thống đê biển và các cống điều tiết nặm, ngọt phục vụ SX và dân sinh. Vùng Tây sông Hậu ngọt hóa quanh năm, đã khai khác ổn định nhiều năm, chủ yếu trồng lúa, rau màu và nuôi cá nước ngọt. Vùng này nhiều khu vực được quy hoạch liền canh, liền cư, đê bao kết hợp với giao thông nông thôn nên rất chắc chắn.

Riêng vùng Tứ giác Long Xuyên, mới được tập trung khai phá mạnh từ khi Chính phủ đầu tư xây hệ thống kênh và cống thoát lũ ra biển Tây. Đây là vùng trũng thấp, lại được ví là rốn lũ, rốn phèn nên rất cần có hệ thống đê bao nội đồng nhằm đảm bảo việc SX an toàn, hiệu quả.

Theo ông Trung, thường thì những năm lũ nhỏ, người dân rất lơ là việc tu bổ hệ thống đê bao. Thậm chí, nhiều nơi người dân còn tự ý “gọt” bớt chân đê do lo ngại đê lớn sẽ là nơi trú ngụ của chuột bọ, ra phá hoại mùa màng. Hơn nữa, đê lớn cũng làm mất một phần diện tích đất canh tác. Tuy nhiên, những năm lũ lớn thì người dân rất chú trọng hệ thống đê bao lửng, đê bao khép kín.

08-03-56_nh_3_-_xy_dung_de_bo_con_chu_dong_thich_nghi_v_ung_pho_voi_dieu_kien_bien_doi_khi_hu_khc_nhiet_nhu_hien_ny
Ảnh: L.H.V

Cụ thể, riêng mùa nước nổi vừa qua, toàn tỉnh đã có hàng trăm km đê bao được đầu tư, gia cố khá chắc chắn, với tổng kinh phí đào đắp ước tính lên đến hơn 54 tỷ đồng. Trong đó, riêng chi phí người dân tự nguyện bỏ ra để gia cố đê bao giữ lúa là hơn 20 tỷ. Số còn lại trước mắt tỉnh đã ứng ngân sách chuyển cho các địa phương trả đơn vị thi công, đồng thời đã có công văn gửi trung ương xin hỗ trợ phần kinh phí này.

Thực tế tại các địa phương, sau mùa lũ lớn, hệ thống đê bao bảo vệ SX đã được gia cố rất vững chắc. Theo thống kê, tại huyện Giang Thành đã có 194km đê bao, bờ bao được gia cố, với cao trình là 2,5m, bảo vệ an toàn cho trên 13.000ha lúa ở khu vực trũng thấp, xung yếu. Tại huyện Kiên Lương, người dân đã chủ động gia cố được 90km đê bao, bờ bao, cùng với đó nhà nước thực hiện gia cố 29km đê bao, với cao trình sau khi gia cố là 2 m, bảo vệ an toàn cho hàng chục ngàn ha lúa. Tương tự, huyện Hòn Đất đã có trên 200km đê bao được gia cố lại, đảm bảo an toàn. Trong đó, tổng chiều dài tuyến đê bao, bờ bao mà nông dân trong huyện tự gia cố là 122km. Còn nhà nước thực hiện là 108km và gia cố 27 cống đập.

Hiệu quả hệ thống đê bao phục vụ sản xuất / LÊ HOÀNG VŨ - Đ.T.CHÁNH // nongnghiep.vn. -ngày 20/12/2018
Số lần đọc: 25
Tin liên quan