05.03.2014
Thế kỷ XX, tin học bắt đầu được úng dụng vào hoạt động thư viện. Việc ứng dụng tin học hoá đã làm cho tính chất nghề thư viện có nhiều thay đổi, trong đó công tác lưu trữ thông tin được gắn liền với công tác thông tin thư mục và biên mục được tự động hoá.

Việc biên mục tự động sử dụng một phần mềm tư liệu hoặc phân hệ biên mục của phần mềm tích hợp quản trị thư viện để tạo lập các biểu ghi cho một CSDL thư mục và tạo ra các mục lục thích hợp. Tuy nhiên, các chương trình không thể tự đọc được các phiếu biên mục đã được nhập vào máy tính. Do vậy cần có một phương tiện trung gian để chương trình có thể hiểu được thông tin trên các phiếu được nhập máy. Biên mục đọc máy đã ra đời và thực hiện chức năng này. Năm 1996, biên mục đọc máy xuất hiện với khổ mẫu MARC đầu tiên của Thư viện Quốc hội Mỹ.

MARC là từ viết tắt thuật ngữ tiếng Anh: “Machine readable cataloguing”. Thuật ngữ này có nghĩa là “biên mục có thể đọc bằng máy”. Khổ mẫu MARC 21 là chuẩn để trình bày và trao đổi thông tin thư mục và những thông tin liên quan dưới dạng máy tính đọc được (machine-readable). Nó là khổ mẫu trao đổi, được thiết kế để cung cấp các đặc tả kỹ thuật cho việc trao đổi thông tin thư mục và thông tin liên quan khác giữa các hệ thống. Với thư cách một khổ mẫu trao đổi, MARC 21 không áp đặt những chuẩn lưu trữ dữ liệu bên trong hệ thống và chuẩn trình bày dữ liệu (display format). Việc trình bày dữ liệu là quy định riêng của từng hệ thống riêng biệt sử dụng khổ mẫu MARC 21.

          Khổ mẫu MARC21 được chính thức ra đời năm 1997, là bước phát triển tiếp theo khổ mẫu MARC của Thư viện Quốc Hội Mỹ. Năm 1964, bản ghi chi tiết của khổ mẫu cho một biểu ghi thư mục được đưa ra, đó chính là MARC I. Đầu năm 1968, MARC I được hoàn thiện gọi là MARC II (hay còn gọi là LC MARC). MARC II sử dụng các trường tương ứng theo quy tắc biên mục Anh - Mỹ (AACR2). Ngay sau khi ra đời, khổ mẫu này thu hút được sự quan tâm chú ý của các tổ chức cũng như thư viện của các quốc gia trên thế giới. Khổ mẫu MARC trở thành một tiêu chuẩn quốc tế dưới sự bảo trợ của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO. MARC II không ngừng được hoàn thiện, lúc đầu nó là khổ mẫu biên mục dành cho dữ liệu thư mục, cung cấp những thông tin về bản thân tài liệu, những thông tin mô tả tài liệu, những thông tin cần thiết nhất của tài liệu, được thể hiện qua công tác biên mục, xử lý trực tiếp tài liệu. Cuối những năm 1970, khổ mẫu MARC cho tác giả ra đời, đó là bước phát triển và cải tiến mới của MARC, cung cấp các thông tin liên quan về các điểm truy cập tự động chủ đề và tên tác giả sau khi các biểu ghi chính đã được thiết lập. Đầu những năm 80. MARC II tiếp tục được mở rộng với sự ra đời của 3 loại khổ mẫu. Các khổ mẫu này có khả năng tích hợp với nhau và tích hợp trực tiếp với khổ mẫu MARC thư mục. Do đó Thư viện Quốc hội Mỹ đã tích hợp các khổ mẫu MARC để sử dụng chung cho tất cả các tài liệu khác nhau. Đến năm 1993, khổ mẫu MARC tích hợp được đưa ra ứng dụng. Đầu những năm 90, Thư viện Quốc hội Mỹ và Thư viện Quốc gia Canada đã nghiên cứu để xây dựng một khổ mẫu mới lấy tên là MARC 21. Năm 1997, MARC 21 ra đời trên cơ sở kết hợp hai khổ mẫu USMARC và CANMARC. MARC 21 là sự hoàn thiện của MARC II, do vậy nó kế thừa và phát huy cấu trúc của MARC II.

          MARC 21 bao gồm 5 thành phần hoàn chỉnh hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau để hoàn chỉnh việc biên mục và kiểm soát dữ liệu thư mục. Khổ mẫu này còn mang nhiều yếu tố đặc trưng quốc gia (Mỹ). 5 thành phần đó là:

- MARC 21 Format for Authory Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu tác giả.

- MARC 21 Format for Bibliographic Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu thư mục.

- MARC 21 Format for Classification for Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu phân loại.

- MARC 21 Format for Communty Informstion: Khổ mẫu MARC 21 cho thông tin cộng đồng.

- MARC 21 Format for Holdings Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu về vốn tư liệu.

MARC 21 không ngừng mở rộng phạm vi ứng dụng và liên kết. Trong đó, khổ mẫu thư mục MARC 21 giữ vai trò chủ đạo, với một cấu trúc hoàn thiện, có những ưu điểm và đặc điểm nổi bật, vì vậy nó thu hút được sự quan tâm của ngành thư viện thế giới nói chung và các thư viện Việt Nam nói riêng. Khổ mẫu MARC là công cụ không thể thiếu của quá trình biên mục tự động, cho phép các thư viện chuẩn hoá các dữ liệu biên mục, tích hợp trao dổi dữ liệu, mở rộng các phương thức tiếp cận và tra tìm tài liệu thuận tiện.

2.2 Phạm vi áp dụng và các loại biểu ghi xử lý của khổ mẫu thư mục MARC 21

Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu thư mục được thiết kế để làm một công cụ chứa thông tin thư mục về các tài liệu văn bản được in và bản thảo, tệp tin, bản đồ, bản nhạc, xuất bản phẩm nhiều kỳ, tài liệu nghe nhìn và các tài liệu hỗn hợp. Dữ liệu thư mục thông thường bao gồm nhan đề, chủ đề, chú giải, dữ liệu về xuất bản, thông tin mô tả vật lý của đối tượng. Khổ mẫu thư mục chứa các yếu tố dữ liệu cho các loại hình tài liệu sau:


- Sách (BK) - sử dụng cho các tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu vi hình có bản chất chuyên khảo.


- Xuất bản phẩm nhiều kỳ (SE) - sử dụng cho tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu vi hình mà nó được sử dụng ở dạng từng phần với phương thức xuất bản lặp lại (như ấn phẩm định kỳ, báo, niên giám,...).


- Tệp tin (CF) - sử dụng cho phần mềm máy tính, dữ liệu số, các tài liệu đa phương tiện định hướng sử dụng bằng máy tính, hệ thống hoặc dịch vụ trực tuyến. Các loại nguồn tin điện tử khác được mã hoá theo khía cạnh quan trọng nhất của chúng. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.


- Bản đồ (MP) - sử dụng cho tài liệu bản đồ được in, bản thảo và vi hình, bao gồm tập bản đồ, bản đồ riêng lẻ và bản đồ hình cầu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.


- Âm nhạc (MU) - sử dụng cho bản nhạc được in, bản thảo và vi hình cũng như nhạc ghi âm và những tài liệu ghi âm không phải nhạc khác. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.


- Tài liệu nhìn (VM) - sử dụng cho những loại tài liệu chiếu hình, không chiếu hình, đồ hoạ hai chiều, vật phẩm nhân tạo hoặc các đối tượng gặp trong tự nhiên ba chiều, các bộ tài liệu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.


- Tài liệu hỗn hợp (MX) - sử dụng chủ yếu cho những sưu tập lưu trữ và bản thảo của hỗn hợp các dạng tài liệu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ. (Ghi chú: trước năm 1994, tài liệu hỗn hợp (MX) được tham chiếu như là tài liệu lưu trữ và bản thảo (AM)).

 

Các loại biểu ghi xử lý:
- Tài liệu ngôn ngữ
- Bản thảo tài liệu ngôn ngữ
- Tệp tin
- Tài liệu bản đồ
- Bản thảo tài liệu bản đồ
- Bản nhạc có chú giải
- Bản thảo bản nhạc
- Ghi âm không phải âm nhạc
- Ghi âm âm nhạc
- Tài liệu chiếu hình
- Đồ hoạ không chiếu hai chiều
- Vật phẩm nhân tạo ba chiều và đối tượng tự nhiên
- Bộ tài liệu
- Tài liệu hỗn hợp

- Tài liệu vi hình, bất kể là dạng bản gốc hoặc sao, không được xác định là một loại biểu ghi đặc thù. Khía cạnh vi hình chỉ có tính chất thứ cấp đối với loại tài liệu của đối tượng gốc (thí dụ dạng sách,..) từ đó tạo ra tài liệu vi hình. Điều này cũng áp dụng tương tự với một số loại tệp tin mà ở đó khía cạnh tệp tin chỉ là thứ cấp; tuy nhiên, một số dạng nguồn tin điện tử sẽ được gán mã đúng ở dạng tệp tin.

2.3 Cấu trúc biểu ghi và các trường cơ bản

Một biểu ghi MARC 21 gồm 3 phần chính: Đầu biểu, danh mục, các trường. Cụ thể như sau:

Đầu biểu (Leader)

Đầu biểu của một biểu ghi MARC 21 gồm các phần tử cho phép chương trình xử lý các phần còn lại của biểu ghi (Thư mục, các trường…). Đầu biểu là một chuỗi liên tục gồm 24 ký tự được quy định những chức năng riêng biệt, để từ đó máy tính nhận dạng và xử lý biểu ghi. Chuỗi ký tự này đứng đầu tiên trong dãy ký tự mã hoá biểu ghi của máy tính, tiếp đó là thư mục, cuối cùng là dữ liệu thư mục.
Danh mục (Directory)

Danh mục của một biểu ghi thư mục MARC 21 là một chuỗi mục có độ dài cố dịnh theo ngay sau đầu biểu dể xác định nội dung của biểu ghi. Danh mục được tạo ra bởi máy tính, căn cứ vào biểu ghi thư mục, cho thấy trong biểu ghi thư mục bao gồm các nhãn trường nào, vị trí bắt đầu của trường, độ dài của trường. Danh mục chỉ được sử dụng bởi người lập trình máy tính, nội dung của danh mục được mã hoá bằng chữ số.

Các trường

Mỗi biểu ghi của khổ mẫu MARC 21 bao gồm các trường, ngoài các trường dành cho các yếu tố mô tả thư mục theo AACR2 như nhan đề, thông tin trách nhiệm, thông tin xuất bản, tùng thư, đặc trưng số lượng,… còn có các trường dành cho đề mục chủ đề, ký hiệu phân loại… Các trường này có thể chia nhỏ thành các trường con. Trong biểu ghi của MARC 21 mỗi trường được biểu thị bằng một nhãn trường gồm 3 chữ số.
Khổ mẫu MARc 21 có khoảng trên 200 trường, phân thành từng khối trường tuỳ vào chức năng.

0XX : Thông tin kiểm soát, định danh, chỉ số phân loại,v.v.

1XX : Tiêu đề mô tả chính

2XX : Nhan đề và thông tin liên quan đến nhan đề (nhan đề, lần xuất bản, thông tin về in ấn)

3XX : Mô tả vật lý, v.v.

4XX : Thông tin về tùng thư

5XX : Phụ chú

6XX : Các tiêu đề mô tả theo chủ đề

7XX : Tiêu đề bổ sung, không phải chủ đề hoặc tùng thư; trường liên kết

8XX : Tiêu đề tùng thư bổ sung, sưu tập, v.v.

9XX : Thông tin nội bộ

Sưu tầm

Số lần đọc: 1756
Tin liên quan